IPB

Welcome Guest ( Log In | Register )

 
Reply to this topicStart new topic
Bệnh Lo Lắng, Nhiều nguồn
tttnguyen
post Jun 20 2010, 02:13 AM
Post #1


Advanced Member
***

Group: Root Admin
Posts: 82
Joined: 14-September 06
Member No.: 3



Bệnh Lo Lắng

Nguồn: Anxiety

Lo lắng là trạng thái tâm sinh lư đặc trưng bởi nhận thức, thân thể, cảm xúc, và hành động. Các thành phần này tạo nên một cảm giác không dễ chịu gắn liền với bứt rứt, lo lắng, sợ hăi, hay âu lo. Lo lắng là một dạng tâm trạng khái quát thường xảy ra không có nguyên nhân rơ rệt. Điều đó, phân biệt bệnh lo lắng với bệnh sợ hăi (sợ hăi thường có sự hiện hữu của đe doa rơ rệt). Thêm nữa, sợ hăi thường có hành động chạy trốn và tránh né, trái lại lo lắng là kết quả của đe dọa không thể khống chế hay tránh né được

Quan niệm khác cho rằng lo lắng là "trạng thái tâm trạng hướng đến tương lai trong đó một người chuẩn bị đương đầu với các sự kiện sắp đến" do đó giúp phân biệt giữa nguy hiểm tương lai và nguy hiểm hiện tại và phân chia thành lo lắng và sợ hăi. Diều đó giúp một người đối đầu với t́nh thế khó khăn, ví dụ như tại nơi làm việc hay tại trường, bằng cách dối đầu với việc đó ngay lập tức. Khi lo lắng quá mức, có thể rơi vào vào nhóm bệnh lo lắng

Triệu chứng bệnh lo lắng
Về sinh lư bao gồm đánh trống ngực, nhược/căng cơ, mệt mỏi, nôn mữa, đau ngực, thở ngắn, đau dạ dảy, hay nhức đầu. Cơ thể chuẩn bị để đối đầu với đe dọa:tăng huyết áp và nhịp tim, xuất nhiều mồ hôi, máu chảy đến các nhóm cơ tăng, và ức chế hệ thống miễn dịch và tiêu hóa. Biểu hiện bên ngoài có thể bao gồm da tái, ra mồ hôi, run rẩy, và giản nở đồng tử mắt.
Go to the top of the page
 
+Quote Post
tttnguyen
post Jun 20 2010, 05:18 AM
Post #2


Advanced Member
***

Group: Root Admin
Posts: 82
Joined: 14-September 06
Member No.: 3



Nguồn: Applied Therepeutics - The Clinical Use of Drugs

Tổng Quát
Lo Lắng có thể mô tả như là cảm giác không thoải mái của sự sợ hăi hay lo âu mơ hồ đi kèm với cảm xúc vật lư. Lo lắng thường là một đáp ứng b́nh thường và có lợi đối với các hoàn cảnh mà con ngụi đối diện như những đe dọa sợ hăi hay nói cách khác là những quấy rối/xáo trộn. Lo lắng được dùng như một phương thức điều trị báo động chúng ta dùng những phương cách thích hợp để đối phó với các t́nh cảnh căng thẳng. Do đó, không giống những bệnh tâm thần khác như bệnh điên hay trầm cảm, lo lắng có thể là cả hai cảm xúc b́nh thường hay là bệnh về thần kinh. Lo lắng liên đới đến 2 thành phần cơ bản: phần tâm lư (ví dụ như lo âu, sợ hăi, khó tập trung) và triệu chứng sinh lư (ví dụ: tăng nhịp tim, thở ngắn, run, thay đổi nhịp tim)

Đôi khi, lo lắng được trải nghiệm bởi một người quá mức chịu đựng t́nh cảnh (khắc nghiệt hay kéo dài) hay quá căng thẳng, đến thời điểm ảnh hưởng đến sinh hoạt hàng ngày. Khi những kết quả nguy hại của lo lắng vượt qua những lợi ích của lo lắng, tạo ra bệnh lo lắng. Bệnh lo lắng có thể phân chia dựa theo (1) như là bệnh lo lắng chủ yếu, (2) như bệnh lo lắng thứ yếu do mang bệnh khác hay bị ảnh hưởng bời các chất nghiện, (3) trong đáp ứng vói t́nh trạng căng thẳng cấp (như mất người thân yêu, hôn nhân hay gia đ́nh có rắc rối), hay (4) như là triệu chứng phối hợp với các bệnh thần kinh khác. Sự phân biệt này có thể khó nhưng quan trọng trong việc diều trị tối ưu.
Go to the top of the page
 
+Quote Post
tttnguyen
post Jun 20 2010, 06:48 AM
Post #3


Advanced Member
***

Group: Root Admin
Posts: 82
Joined: 14-September 06
Member No.: 3



Phân loại và Chẩn đoán Bệnh lo lắng

Tính cách và phân loại bệnh lo lắng thay đoi trong vài thập niên này. Vào thập niên 60, chủ yếu nhấn mạnh vào phân loại tập trung vào phân biệt t́nh trạng lo lắng & cách điều trị với t́nh trạng trầm cảm & điều trị. Vào lúc đó, tất cả t́nh trạng lo lắng điều được gộp vào một nhóm gọi là "chứng loạn thần kinh lo âu". Sự phân biệt nhựng bệnh lo lắng bắt đầu vào năm 1980, với việc xuất bản quyển "Diagnostic and Statistical Manual of Mental Disorders (DSM-III) ấn phẩm lần 3. Từ đó, nhiều nghiên cứu đă được thục hiện giúp chúng ta hiểu biết thêm về nhiều dạng của bệnh lo lắng. Ấn bản thứ 4 của Diasgnostic and Statistical Manual of Mental Disorders (DSM-IV) phân loại bênh lo lắng chủ yếu thành 6 loại: Bệnh lo lắng phổ biến (GAD), Bệnh hoảng sợ, ám ảnh sợ [Phobias](bao gồm lo lắng xả hội - social anxiety disorder), bệnh ám ảnh xung lực cưỡng bức (OCD), căng thẳng sau chấn thương (PTSD), và căng thẳng cấp tính. Một nhóm mới "Bệnh lo lắng không đặc biệt" đuọc dùng cho các trường hợp không khớp với các tiêu chuẩn chẩn đoán cho 6 loại trên hay cho các trường hợp mà trong đó không thể xác định bệnh lo lắng là chủ yếu hay thứ yéu. Mỗi bệnh liên hệ với một cấp bực của lo lắng, nhưng tính cách và t́nh trạng nghiêm trọng của các triệu chứng, cũng như quá tŕnh của bệnh, thay đổi từ rối loạn này đến rối loạn khác. Hiệu quả của thuốc và điều trị không thuốc cũng thay đổi giữa rối loạn. Bệnh lo lắng thứ yếu theo DSM-IV bao gồm "rối loạn lo lắng do t́nh trạng mang bệnh" và "thuốc nghiện dẫn đến bệnh lo lắng"
Go to the top of the page
 
+Quote Post
tttnguyen
post Jul 13 2010, 05:33 AM
Post #4


Advanced Member
***

Group: Root Admin
Posts: 82
Joined: 14-September 06
Member No.: 3



Sinh Lư Bệnh Học

Nguồn: Pharmacotherapy Handbook

1. Mô h́nh Noradrenalin: Hệ thống mô h́nh này cho rằng hệ thần kinh tự động của những bệnh nhân mang bệnh lo lắng rất nhạy cảm và phản ứng quá mức dối với nhiều loại kích ứng. Nhân lục có thể có vai tṛ trong việc điều chỉnh lo lắng, bằng cách kich tiết ra norepinephrin và kích thích hệ thần kinh giao cảm và hệ thần kinh đối giao cảm. Phản ứng quá mức và lâu dài dẫn đến tác động đến nơi cảm nhận alpha-adrenalin trong các bệnh nhân mang bệnh lo lắng phổ biến (GAD) và bệnh cắng thẳng sau chấn thương (PTSD). Bệnh nhân mang bệnh lo lắng xă hội (SAD) có dấu hiệu đáp ứng mạnh của tuyến thượng thận đối với thần kinh stress

2. Mô h́nh nơi tiếp nhận Gamma-Aminobutyric Acid (GABA): GABA là chất dẫn truyền ức chế chánh trên hệ thống thần kinh trung ương. Rất nhiều thuốc giải lo lắng nhắm vào diểm tiếp nhận GABA. Nhóm Benzodiazepines (BZs) làm tăng tác dụng ức chế của GABA, có tác dụng điều ḥa hay ức chế mạnh trên serotonin (5-HT), norepinephrin, và hệ thống dopamin. Những triệu chứng của lo lắng có thể liên quan đến sự hoạt dộng kém của hệ thống GABA hay các điểm tiếp nhận việc điều ḥa phía dưới của trung tâm BZ. Trong bệnh nhân với GAD, việc liên kết giữa BZ và thùy trái của thái dương bị giảm. Sự nhạy cảm bất thường đối với các điểm tiếp nhận dối kháng BZ và sự giảm việc nối kết dược t́m thấy trong trường hợp bệnh rối loạn hốt hoảng. Kích thích tố tăng trưởng đáp ứng với baclofen trong bệnh nhân mang bệnh lo lắng xă hội (SAD) cho thấy tính bất thường về chức năng của điềmtrung tâm tiếp nhận GABA. Sự bất thường của tính ức chế của GABA có thể tăng đáp ứng với stress trong bệnh nhân PTSD.

3. Mô h́nh 5-HT: Những triệu chứng của GAD có thể phản ảnh sự dẫn truyền quá độ của 5-HT hay việc điều ḥa quá mức trên chuỗi kích thích 5-HT. Bệnh nhân SAD có nhiều prolactin đáp ứng với buspirone, cho thấy tăng đáp ứng trung tâm serotonin. Vai tṛ của 5-HT trong bệnh rối loạn hoảng hốt là không rơ ràng, nhưng có thể có vai tṛ trong việc phát triển lo lắng. Những con số thống kê đầu tiên cho thấy rằng 5-HT và 5-HT2 đối kháng meta chlorophenylpiperazine gây tăng lo lắng trong bệnh nhân PTSD

4. Trong bệnh nhân PSTD, corticotropin-relasing factor (CRF) bị tiết ra rất nhiều nhưng lại có hàm lượng cortison thấp hơn mức b́nh thường khi thời điểm bị chấn thương và lâu dài. Việc điều ḥa ngược của trục tuyến đồi-yên-thượng thận có thể là yếu tố nguy hiểm cho việc phát triển PTSD

5. Nhữn nghiên cứu chức năng thần kinh qua h́nh ảnh cho thấy rằng vùng trán và vùng chẩm của năo có liên hệ với việc đáp ứng lo lắng. Bệnh nhân với bệnh lo sợ hoảng hốt có sự đáp ứng không b́nh thường của vùng parahippocampus và vùng vỏ trước thùy trán lúc nghĩ. Bệnh lo lắng hoảng hốt có liên kết với việc kích thích thân năo và những vùng hạch cơ bản (basal ganglia). Bệnh nhân GAD c̣ sự tăng bất thường trong hoạt động của vùng vỏ và giảm hoạt động trong basal ganglia. Trong bệnh nhân SAD, có sự bất thường trong vùng amygdala, hippocampus, và nhều phần trong vùng vỏ. Bệnh nhân PTSD có kích thước hippocampus nhỏ hơn b́nh thường có thể là nguyên nhân dẫn đến việc phát triển PTSD
Go to the top of the page
 
+Quote Post
tttnguyen
post Jul 19 2010, 03:23 PM
Post #5


Advanced Member
***

Group: Root Admin
Posts: 82
Joined: 14-September 06
Member No.: 3



Triệu Chứng

Bệnh lo lắng phổ biến (GAD)

Triệu chứng của bệnh GAD bao gồm

1. Triệu chứng về tâm lư và nhận thức: Lo lắng quá mức, âu lo đến mức khó ḱm chế, cảm giác bực dọc căng thẳng hay tuyệt vọng, không thể tập trung hay trống rỗng

2. Triệu chứng sinh lư: bồn chồn, mệt mỏi, cơ bắp căng cứng, rối loạn giấc ngủ, dễ bực bội cáu kỉnh.

3. Tổn hại: đến nhiều lănh vực như xă hội, nghề nghiệp. khả năng đương đầu khó khăn bị suy kém

Các yếu tố chẩn đoán bao gồm các triệu chứng trên xảy ra trong nhiều ngày kéo dài ít nhất 6 tháng. Lo lắng hay âu lo phải có liên quan đến một số vấn khó khăn/chủ yếu và thường kèm theo ít nhất 3 triệu chứng tâm lư & 3 triệu chứng sinh lư. Bệnh thường bắt đầu mạnh mẽ khoảng tuổi trung b́nh là 21 tuổi. Bệnh có thể kéo dài có lúc bộc phát mạnh có lúc th́ biến mất. Tỉ lệ tái bệnh cao và tỉ số b́nh phục th́ thấp

(c̣n tiếp)
Go to the top of the page
 
+Quote Post
tttnguyen
post Aug 21 2010, 01:32 AM
Post #6


Advanced Member
***

Group: Root Admin
Posts: 82
Joined: 14-September 06
Member No.: 3



Bệnh rối loạn khiếp sợ

Triệu chứng thường bắt đầu như một chuổi tấn công khiếp sợ. Tiếp theo ít nhất một tháng liên tục với tấn công khiếp sợ khác

Triệu chứng của tấn công khiếp sợ bao gồm

- Triệu chứng tâm lư: trầm cảm/ưu uất, vô vọng, sợ mất kiểm soát, sợ phát điên, sợ chết

- Triệu chứng sinh lư: Đau bụng, đau thắt ngực hay cảm thấy khó chịu ở ngực, lạnh, chóng mặt hay nhức đầu nhẹ, cảm giác nghẹn thở, nóng bừng mặt/cơ thể, tim hồi hộp, nôn mữa, thở ngắn, dị cảm, đổ mồ hôi, nhịp tim nhanh, run rẩy

Trong suốt thời gian khiếp sợ/hoảng hốt, có ít nhất 4 triệu chứng sinh lư thêm vào triệu chứng tâm lư. Triệu chứng đạt điểm cao khoảng 10 phút và thường kéo dài không quá 20 đến 30 phút

Nhiều bệnh nhân thường phát triển thành chứng sợ khoảng rộng thường tránh các t́nh trạng đặc biệt (nghĩa là nơi đông người, những cây cầu, ...) nơi mà họ sơ rằng cơn khiếp sợ có thể xảy ra. Bệnh nhân có thể trở thành người luôn trốn núp trong nhà.

Bệnh rối loạn lo lắng xă hội (SAD)

Nét chủ yếu của SAD là căng thẳng, kích ứng, và sợ hăi dai dẵng về việc đánh giá xấu trong t́nh trạng xă hội hay trong lúc biểu diễn/tŕnh bày. Tiếp xúc với t́nh trạng sợ hăi thường gây nên cơn tấn công khiếp sợ.

Triệu chứng của SAD bao gồm

- Sợ hăi: bị người khác phê phán, bị xấu hổ, bị chọc ghẹo

- Sợ một số t́nh trạng: đối diện với một số nhóm người, ăn trước mặt người khác, nói chuyện trước công chúng, nói với người lạ, dùng hệ thống vệ sinh công cộng ...

- Triệu chứng sinh lư: Đỏ bừng, khó chịu trong bao tử, tiêu chảy, đổ mồ hôi, nhịp tim nhanh, run rẩy

- Các loại:
Loại tổng quát: sợ và tránh tham gia vào các hoạt động xă hội/tiếp xúc với xă hội
Loại đặc biệt: sợ hạn chế trong một vài trường hợp

Rối loạn căng thẳng sau chấn thương (PTSD)

Trong PTSD, tiếp xúc với một tai nạn chấn thương gây liền một sự sợ hăi, vô vọng, hay kinh hăi

Triệu chứng bệnh học của PTSD bao gồm

- Triệu chứng kinh nghiệm tái diễn: kích thích kư ức về chấn thương, kích thích nhớ lại tai nạn trong giấc mơ, cảm giác tai nạn tái diễn lại, tâm lư gợi nhớ lại tai nạn

- Triệu chứng lẫn tránh: tránh nói về tai nạn, tránh nghĩ về tai nạn, tránh các hoạt động gợi nhớ lại tai nạn, tránh các nơi hay các người làm kích thich lai kư ức lúc gặp nạn, không có khả năng nhớ điểm quan trọng của tai nạn, mất khoái cảm, bất ḥa với những người khác, giới hạn, cảm giác tương lai ngắn ngủi (không mong một công việc, kết hôn ...)

- Triệu chứng quá kích thích: giảm sự tập trung, dễ dàng giật ḿnh/hoảng hốt, mất ngủ, dễ bị kích động hay giận dữ, quá cảnh giác

- Các loại:
Cấp tính: thời gian các triệu chứng kéo dài dưới 3 tháng
Măn tính: kéo dài hơn 3 tháng
Chậm: triệu chứng diễn ra ít nhất là sau 6 tháng tính từ ngày chấn thương

Câu hỏi để chẩn đoán: Bạn có từng bị một chấn thương mạnh trong cuộc đời của bạn? Chấn thương này có làm thay đổi hay ảnh hưởng xấu đến cuộc đời bạn?

Bệnh nhân cần ít nhất triệu chứng tái diễn, 3 dấu hiệu hay triệu chứng việc dai dẳng tránh sự kích ứng, và ít nhất 2 triệu chứng quá kích thích. Từng nhóm triệu chứng có thể hiện hữu lâu hơn một tháng và gây căng thẳng hay ảnh hưởng đáng kể. PTSD có thể xảy ra bất kể tuổi nào, và t́nh trạng thay đổi

1/3 bệnh nhân với PTSD không được chẩn đoán đúng, và khoảng 80% có kèm theo trầm cảm và rối loạn lo lắng. Trên 1/2 nam giới PTSD có kèm theo bệnh nghiện ruợu hay bị nghiện thuốc gây nghiện, và khoảng 20% bệnh nhân có ư định tự tử





Go to the top of the page
 
+Quote Post

Reply to this topicStart new topic
1 User(s) are reading this topic (1 Guests and 0 Anonymous Users)
0 Members:

 



Lo-Fi Version Time is now: 8th September 2010 - 04:36 PM